Danh mục: Sự Kiện Đã Tổ Chức

  • Hội thảo Hoàn thiện Dự thảo Thông tư hướng dẫn quy trình xác minh, tài sản thu nhập đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập

    Hội thảo Hoàn thiện Dự thảo Thông tư hướng dẫn quy trình xác minh, tài sản thu nhập đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập

    Ngày 10/1, Thanh tra Chính phủ phối hợp với Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) tổ chức Hội thảo Hoàn thiện Dự thảo Thông tư hướng dẫn quy trình xác minh, tài sản thu nhập đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập.

    Ông Trần Đăng Vinh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Thanh tra Chính phủ) chủ trì hội thảo. Cùng dự có bà Nguyễn Nguyệt Minh, Phụ trách Văn phòng UNODC tại Việt Nam.

    Phát biểu tại hội thảo, ông Trần Đăng Vinh nhấn mạnh, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị là một trong những giải pháp quan trọng trong các giải pháp tổng thể phòng ngừa tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP đã có những quy định rất cụ thể về công tác này.

    Theo Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về công tác kiểm soát tài sản, thu nhập, ngày 8/2/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 56-QĐ/TW về Quy chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập.

    Quá trình thực hiện cho thấy, công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở nước ta thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, giúp tăng cường tính minh bạch, liêm chính của nền công vụ và của người có chức vụ, quyền hạn; giúp các cơ quan quản lý nhà nước giám sát, phòng ngừa có hiệu quả các hành vi làm giàu bất chính, giảm thiểu nguy cơ tham nhũng, tiêu cực. 

    Tuy nhiên, theo ông Trần Đăng Vinh, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập, nhất là trong công tác xác minh tài sản, thu nhập, như: Chưa có một quy trình cụ thể, thống nhất hướng dẫn về nội dung, phương pháp, cách thức, các bước tiến hành việc xác minh tài sản, thu nhập, cũng như hướng dẫn các biểu mẫu văn bản trong quá trình thực hiện xác minh tài sản, thu nhập, dẫn đến các cơ quan, đơn vị lúng túng, khó khăn trong thực hiện;

    Bên cạnh đó, quy định về việc lựa chọn ngẫu nhiên mới chỉ mang tính nguyên tắc, chưa có những quy định cụ thể về việc triển khai thực hiện để bảo đảm tính thống nhất, công khai, minh bạch, khách quan. Việc yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị cá nhân cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai còn được thực hiện tùy nghi, thiếu thống nhất nên hiệu quả chưa cao… 

    Xuất phát từ những vấn đề trên, Ban Cán sự Đảng và Tổng Thanh tra Chính phủ đã chỉ đạo, giao Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với Cục Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Cục IV) và các đơn vị có liên quan nghiên cứu, xây dựng Dự thảo Thông tư hướng dẫn quy trình xác minh, tài sản thu nhập đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho quá trình thực hiện nhiệm vụ xác minh tài sản, thu nhập một cách thống nhất, đồng bộ và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập đang gặp phải.

    Tại hội thảo, qua hình thức trực tuyến, bà Annika Wythes, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống tham nhũng khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương, UNODC cho biết, để giải quyết tham nhũng một cách hiệu quả, việc xác minh tài sản và thu nhập của các cá nhân, đặc biệt là những người có chức vụ, quyền hạn rất quan trọng. Theo bà Annika Wythes, quá trình này là một biện pháp nhằm đảm bảo phòng ngừa tham nhũng bất hợp pháp bằng cách xem xét, xác minh kỹ lưỡng sự giàu có và thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

    “Chúng ta có thể xác định được những bất thường hoặc những luồng thu nhập ẩn giấu hoặc có thể tiềm ẩn tham nhũng, cùng cách xác minh củng cố nền tảng của xã hội công bằng, bình đẳng, nơi các cá nhân phải có trách nhiệm giải trình bằng cách đảm bảo tính minh bạch”, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống tham nhũng khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương nhấn mạnh.

    Cũng theo bà Annika Wythes, việc xác minh tài sản thu nhập không chỉ củng cố niềm tin vào các cơ quan Nhà nước mà còn ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực và đảm bảo rằng quyền lực được sử dụng đúng mục đích thúc đẩy tính liêm chính và công bằng trong khu vực công lẫn khu vực tư.

    Với tư cách là cơ quan giám sát của Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng, UNODC chú trọng về việc hỗ trợ hoàn thiện pháp luật chính sách của các quốc gia thành viên, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện công ước.

    Ghi nhận nỗ lực của Thanh tra Chính phủ cũng như ngành Thanh tra trong việc xây dựng Thông tư hướng dẫn quy trình xác minh, tài sản thu nhập đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, bà Annika Wythes cho biết, đây có thể coi là hành động cụ thể của Chính phủ Việt Nam nhằm tích cực thực hiện công ước của Liên hợp quốc mà Việt Nam là quốc gia thành viên.

    Giám đốc Trung tâm Phòng, chống tham nhũng khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương cũng nhấn mạnh hội thảo hôm nay rất quan trọng trong việc hợp tác giữa UNODC và Chính phủ Việt Nam. Các ý kiến của các đại biểu tại hội thảo không chỉ có ý nghĩa đối với Thanh tra Chính phủ trong việc hoàn thiện dự thảo Thông tư mà sẽ đóng góp rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra trong thời gian tới.

    Tai hội thảo, các đại biểu tập trung góp ý vào những nội dung cụ thể của Dự thảo Thông tư. Đồng thời trao đổi kinh nghiệm thực tiễn cũng như những khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn và đề xuất các sáng kiến, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về quy trình xác minh tài sản, thu nhập.

    Theo ông Trần Đăng Vinh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, những ý kiến đóng góp tại hội thảo mang lại giá trị không chỉ cho công tác kiểm soát tài sản, thu nhập mà còn góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các biện pháp tổ chức thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới.

  • Hội thảo Trao đổi, thảo luận về những khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong bối cảnh kỷ nguyên số, chuyển đổi số

    Hội thảo Trao đổi, thảo luận về những khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong bối cảnh kỷ nguyên số, chuyển đổi số

    Sáng ngày 10/01, Bộ Tư pháp phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức Hội thảo Trao đổi, thảo luận về những khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (CSDLQG về PL) trong bối cảnh kỷ nguyên số, chuyển đổi số. Chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp – Hoàng Xuân Hoan; ông Chinone Koichi – Cố vấn trưởng đại diện Dự án JICA tại Việt Nam và ông Onishi Hiromichi – chuyên gia của Dự án JICA tại Việt Nam. Phát biểu tại Hội thảo, Phó Cục trưởng Hoàng Xuân Hoan cho biết, sau hơn 10 năm đưa vào khai thác và sử dụng chính thức trên mạng internet, CSDLQG về PL đã cung cấp tương đối đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ nhu cầu tiếp cận, tra cứu, áp dụng và thi hành pháp luật cho người dân, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển nhanh, mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực; nguồn thông tin phong phú, trình độ dân trí ngày càng cao, dân chủ ngày càng được mở rộng trong khi năng lực nền kinh tế còn chưa cao, bộ máy nhà nước ngày càng tinh giảm… dẫn đến yêu cầu nâng cao chất lượng công tác xây dựng CSDLQG về PL.

    Bên cạnh đó, việc tổ chức triển khai quản lý, duy trì, cập nhật cũng như hệ thống phần mềm đã và đang tồn tại một số bất cập, hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng công tác quản lý, khai thác, sử dụng CSDLQG về PL. Do vậy, để khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên và đáp ứng yêu cầu bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong thời gian tới CSDLQG về PL cần được tiếp tục nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện một cách khoa học, toàn diện, hiệu quả.

    Đồng chí Hoàng Xuân Hoan nhấn mạnh, Hội thảo được tổ chức nhằm trao đổi những thực trạng về khó khăn, vướng mắc trong việc khai thác, sử dụng CSDLQG về PL; đồng thời học hỏi những kinh nghiệm của Nhật Bản về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo đối với việc quản lý hệ thống pháp luật. Từ đó, Hội thảo sẽ cùng đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác xây dựng CSDLQG về PL trong bối cảnh kỷ nguyên số, chuyển đổi số.

    Tại Hội thảo, ông Nguyễn Trung Dũng, Trưởng phòng Phòng Chuyển đổi số, Cục Công nghệ thông tin đã trình bày tham luận về một số vấn đề tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số đối với CSDLQG về PL. Ông Nguyễn Trung Dũng chia sẻ, định hướng phát triển CSDLQG về PL cần tập trung vào việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, trợ lý ảo, dữ liệu lớn để thực hiện việc xây dựng CSDLQG về PL, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật. Đồng thời nghiên cứu tái cấu trúc cơ sở dữ liệu và phân bổ nguồn lực đầu tư nâng cấp; tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia có kinh nghiệm nhằm đẩy nhanh tiến độ ứng dụng kỹ thuật số trong xây dựng pháp luật,…

    Hội thảo cũng được nghe bà Hoàng Linh Cầm, Chánh Văn phòng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp trình bày tham luận về “Một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao hiệu quả đối với việc khai thác, sử dụng CSDLQG về PL”; bà Phùng Thị Hương, Chuyên viên Văn phòng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trình bày tham luận về “Một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao hiệu quả đối với việc quản trị CSDLQG về PL”. 

    Chia sẻ về kinh nghiệm của Nhật Bản trong ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo đối với việc quản lý, công khai hệ thống pháp luật, ông Onishi Hiromichi – Chuyên gia của Dự án JICA tại Việt Nam cho rằng, để thúc đẩy số hóa công tác thẩm tra dự thảo văn bản pháp luật và việc sử dụng dữ liệu pháp luật thì cần tập trung một số biện pháp như: rà soát quy trình nghiệp vụ công tác thẩm tra dự thảo văn bản pháp luật, thúc đẩy phát triển các dịch vụ sử dụng, ứng dụng dữ liệu pháp luật, cung cấp cơ sở dữ liệu thông tin cơ bản và thông báo công khai…

    Hội thảo cũng dành thời gian để các đại biểu cùng trao đổi, thảo luận, chia sẻ về những khó khăn, vướng mắc mà bộ, ngành, địa phương mình đang gặp phải trong việc quản lý, duy trì, khai thác, sử dụng CSDLQG về PL, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác xây dựng CSDLQG về PL trong bối cảnh kỷ nguyên số, chuyển đổi số.

  • Hội thảo cuối kỳ Hoạt động Hỗ trợ Phục hồi rừng và quản lý rừng bền vững tại KDTSQ miền Tây Nghệ An

    Hội thảo cuối kỳ Hoạt động Hỗ trợ Phục hồi rừng và quản lý rừng bền vững tại KDTSQ miền Tây Nghệ An

    Ngày 31/12/2024, Ban Triển khai Dự án BR Tây Nghệ An phối hợp với Đơn vị tư vấn tổ chức Hội thảo cuối kỳ Hoạt động Hỗ trợ Phục hồi rừng và quản lý rừng bền vững tại KDTSQ miền Tây Nghệ An trong khuôn khổ Dự án BR. Dự án “Lồng ghép các mục tiêu quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quản lý các khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam” (viết tắt là dự án BR); Cơ quan chủ quản là Bộ Tài nguyên và Môi trường được tài trợ từ Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) thông qua Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thực hiện tại KDTSQ Tây Nghệ An, Cù Lao Chàm, Đồng Nai trong 05 năm (2029-2024) với mục tiêu lồng ghép hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các tỉnh và quản lý các KDTSQ ở Việt Nam.

    Hoạt động phục hồi 2.000 ha rừng suy thoái tại Khu DTSQ Miền Tây Nghệ An thuộc gói thầu UNDP-VNM- 00001,2 do Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng là đơn vị tư vấn thực hiện được triển khai từ tháng 7/2023 đến tháng 12/2024 trên địa bàn xã Đồng Văn huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An.
    Tham gia buổi làm việc có Ông Nguyễn Thành Chung – Phó Ban Triển khai Dự án BR; Hạt Kiểm lâm Quế Phong; Đơn vị tư vấn; Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, UBND xã Đồng Văn và đại diện các hộ gia đình tham gia Dự án.
    Tại buổi làm việc, Ông Nguyễn Thành Chung – Phó trưởng ban triển khai Dự án BR tỉnh Nghệ An đã có những chia sẻ tổng quan những hoạt động của Dự án BR đã triển khai thực hiện tại địa bàn huyện Quế Phong thông qua các hợp phần của Dự án BR.

    Tại Hội thảo, các ý kiến tham luận của người dân diễn ra sôi nổi và có những ý kiến góp ý cho Dự án.
    Kết thúc Hội thảo, Ông Nguyễn Thành Chung nhấn mạnh các kết quả đạt được, đánh giá cao sự phối hợp giữa chính quyển và người dân trong việc thực hiện Dự án và đóng góp những đề xuất, kiến nghị cho Dự án trong tương lai.

  • KHOÁ TẬP HUẤN TÀI LIỆU “HƯỚNG DẪN CÁC BẬC CHA MẸ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN CHO THANH THIẾU NIÊN”

    KHOÁ TẬP HUẤN TÀI LIỆU “HƯỚNG DẪN CÁC BẬC CHA MẸ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN CHO THANH THIẾU NIÊN”

    Thực hiện nhiệm vụ phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh, ngày 19/12/2024, đại diện các thầy, cô giáo làm công tác chủ nhiệm lớp, đại diện cha mẹ học sinh và nhân viên tư vấn tâm lý của nhà trường đã tham gia đã tham gia chương trình tập huấn do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp cùng UNICEF tổ chức.

    Chương trình tập huấn tập trung vào việc hỗ trợ CMHS nâng cao nhận thức và kỹ năng trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho thanh, thiếu niên. Đồng thời, chương trình cũng bồi dưỡng khả năng kết nối giữa phụ huynh và học sinh tạo nền tảng tâm lý vững chắc để các em phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần và nhân cách.  

    Kết quả đạt được: 
    Sau buổi tập huấn, đội ngũ nhân viên tư vấn tâm lý và giáo viên chủ nhiệm của trường đã:  
    – Hiểu sâu hơn về đặc điểm tâm lý và nhu cầu hỗ trợ của thanh thiếu niên. 
    – Thành thạo hơn trong việc áp dụng các kỹ năng hỗ trợ phụ huynh và học sinh chăm sóc sức khỏe tâm thần. 
    – Xây dựng kế hoạch hành động cụ thể để kết nối và phối hợp hiệu quả giữa gia đình và nhà trường.

    Buổi tập huấn góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc học sinh, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường, hướng tới sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và nhân cách cho các em.

  • Lớp bồi dưỡng Kỹ năng, nghiệp vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật

    Lớp bồi dưỡng Kỹ năng, nghiệp vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật

    Cần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò công tác tổ chức và theo dõi tình hình thi hành pháp luật- Đây là ý kiến của đại biểu tham dự Lớp bồi dưỡng Kỹ năng, nghiệp vụ theo dõi thi hành pháp luật do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 04/12/2024 tại Hà Nội. Phát biểu khai mạc Lớp bồi dưỡng, ông Trần Quốc Hoàn, Cục trưởng Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật cho biết, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật có vai trò quan trọng, ý nghĩa lớn trong việc đưa các quy định của pháp luật được thực thi hiệu quả trong đời sống xã hội, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trong đời sống kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Lớp bồi dưỡng được tổ chức nhằm bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ này tại các đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp; Sở Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cục trưởng mong muốn, các đại biểu tham dự và các báo cáo viên sẽ cùng nhau trao đổi về kinh nghiệm, những khó khăn, vướng mắc và phương hướng khắc phục.

    Tại Lớp bồi dưỡng, các đại biểu tham dự được nghe các báo cáo viên chia sẻ về một số nội dung: (i) vấn đề chung về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; (ii) xem xét, đánh giá tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết và tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật; (iii) xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

    Trao đổi về trách nhiệm quản lý nhà nước về theo dõi tình hình thi hành pháp luật, ông Trần Quốc Hoàn cho biết, trách nhiệm quản lý nhà nước về theo dõi tình hình thi hành pháp luật của Bộ Tư pháp được quy định tập trung trong Nghị định số 98/2022/NĐ-CP ngày 29/11/2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp và Điều 15, 16 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 32/2020/NĐ-CP). Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước và trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

    Trách nhiệm quản lý nhà nước về theo dõi tình hình thi hành pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được quy định tại các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Tuy nhiên, vấn đề này được quy định rõ tại Điều 16 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 32/2020/NĐ-CP) và một số điều khoản khác của Nghị định. Cụ thể: bộ, cơ quan ngang bộ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan thuộc Chính phủ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực được phân công. Tổ chức pháp chế ở bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Các cơ quan, đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực được phân công.

    Tại địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý ở địa phương. Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã chủ trì, phối hợp với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý ở địa phương. Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực được phân công.

    Trao đổi về nội dung “xem xét, đánh giá tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết và tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật”, ông Lê Thanh Bình, Phó Cục trưởng Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật cho biết, việc xem xét, đánh giá tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết cũng như việc xem xét, đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ, khả thi của văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện ở tất cả các khâu đoạn trong chu trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật, từ khi văn bản được xây dựng, ban hành cho đến khi văn bản đó được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ. Bên cạnh đó, tính hợp pháp, đồng bộ, thống nhất là biểu hiện của nguyên tắc pháp quyền – một nguyên tắc hiến định. Tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật thể hiện tính hiệu quả cao nhất về kinh tế, chính trị, xã hội, tuy nhiên tính khả thi cũng phần nào hàm chứa biểu hiện của tính hợp pháp, đồng bộ, thống nhất. Sức sống và khả năng tồn tại của các văn bản quy phạm pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào tính khả thi của nó. Văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành chỉ có thể trở thành bộ phận hữu cơ của cơ chế điều chỉnh pháp luật và có hiệu quả khi nội dung và hình thức của chúng bảo đảm cả tính hợp pháp, đồng bộ, thống nhất và tính khả thi.

    Trao đổi tại Lớp Bồi dưỡng, bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật cho biết, xây dựng kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật có ý nghĩa quan trọng, giúp xác định mục tiêu cần đạt được của hoạt động và cách thức tổ chức, huy động các nguồn lực và tổ chức thực hiện các công việc để đạt được mục tiêu đề ra; giúp cơ quan, đơn vị sử dụng hiệu quả các nguồn lực thông qua việc lựa chọn phương án bố trí, sử dụng và phối hợp các nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả vào việc hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ, giảm thiểu sự trùng lắp, chồng chéo, lãng phí; giúp xác định được trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực thi nhiệm vụ, từ đó giúp đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng chủ thể; là công cụ hỗ trợ hữu hiệu để kiểm soát, đánh giá tiến độ thực hiện, chất lượng và kết quả thực hiện công việc, giúp đưa ra các quyết định chính xác, kịp thời để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các mục tiêu; ghi nhận kết quả triển khai và thực hiện công tác quản lý nhà nước khi được đưa vào tiêu chí chấm điểm cải cách hành chính và trong việc đánh giá xếp loại Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đối với hoạt động xác định chỉ số cải cách hành chính, tuy không trực tiếp chấm điểm xây dựng kế hoạch, nhưng hoạt động xây dựng kế hoạch là căn cứ để chấm điểm việc thực hiện hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật, do đó, người làm công tác theo dõi thi hành pháp luật cần tập trung, trú trọng vào xây dựng kế hoạch, sẽ là tiền đề để triển khai công tác này hiệu quả trên thực tiễn.

    Cũng tại Lớp bồi dưỡng, các đại biểu cùng nhau trao đổi, thảo luận và đưa ra nhiều ý kiến đóng góp để công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật được thực thi có hiệu quả như: (i) cần nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của công tác tổ chức và theo dõi tình hình thi hành pháp luật; (ii) tăng cường công tác nghiên cứu khoa học về lý luận đối với những vấn đề trực tiếp liên quan đến tổ chức thi hành pháp luật và đẩy mạnh hoàn thiện thể chế theo dõi tình hình thi hành pháp luật; (iii) tiếp tục kiện toàn và đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế, tăng cường năng lực đội ngũ làm công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; (iv) đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

  • Hội thảo Phân bón cải tiến và chế phẩm sinh học cải thiện sức khỏe đất

    Hội thảo Phân bón cải tiến và chế phẩm sinh học cải thiện sức khỏe đất

    Sáng 3/12, Cục Bảo vệ thực vật phối hợp với Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), tổ chức hội thảo về phân bón cải tiến và chế phẩm sinh học cải thiện sức khỏe đất. Hội thảo diễn ra trong khuôn khổ dự án “Sử dụng phân bón đúng” (FerRight), với mục tiêu chia sẻ thông tin và kiến thức về các loại phân bón mới có tiềm năng cải thiện hiệu quả sử dụng, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Đồng thời, đây cũng là diễn đàn để các bên liên quan thảo luận về ưu, nhược điểm của các giải pháp hiện tại, cũng như những khoảng trống cần nghiên cứu thêm để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và bảo vệ sức khỏe đất bền vững.

    Phát biểu khai mạc, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, cho biết: “Đề án Sử dụng phân bón đúng được Bộ NN-PTNT phê duyệt nhằm khuyến khích bảo vệ và khai thác sinh vật có ích, sử dụng các loại phân bón sinh học hiệu quả cao và áp dụng các mô hình canh tác tiên tiến. Mục tiêu là duy trì độ phì nhiêu của đất, giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời tăng thu nhập cho nông dân”.

    Ông Tuấn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảm lượng phân bón hóa học sử dụng trong sản xuất nông nghiệp. “Việc sử dụng phân bón không hợp lý không chỉ làm tăng chi phí mà còn gây ô nhiễm môi trường và gia tăng phát thải khí nhà kính. Thách thức đặt ra là làm thế nào để cải thiện chất lượng lúa gạo, giảm phát thải carbon và tăng giá trị kinh tế từ lúa, rơm rạ, cũng như tín chỉ carbon”.

    Ông Ralph Bean, Tham tán Nông nghiệp Hoa Kỳ, chia sẻ về các kết quả bước đầu của dự án FerRight: “Chúng tôi đã phát triển cơ sở dữ liệu ban đầu về phân bón sáng tạo, thực hiện thí nghiệm thực địa để xác định tỷ lệ bón phân tối ưu và xây dựng các công cụ hỗ trợ nông dân áp dụng các thực hành quản lý dinh dưỡng đất bền vững”.

    Theo ông Bean, sự hợp tác giữa các tổ chức như Cục Bảo vệ thực vật, USDA và IRRI không chỉ giúp giải quyết những thách thức trước mắt mà còn tạo nền tảng cho các nghiên cứu sâu hơn trong tương lai. Trong thời gian tới, dự án FerRight sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, hoàn thiện các công cụ hỗ trợ, đồng thời tăng cường kết nối với nông dân và các bên liên quan để thúc đẩy ứng dụng các giải pháp bền vững vào thực tế sản xuất.

    Theo ông Nguyễn Văn Hùng, nhà khoa học cao cấp tại IRRI, sản phẩm đầu ra của dự án FerRight bao gồm cơ sở dữ liệu về đất, phân bón và quản lý canh tác; công nghệ gieo sạ hàng kết hợp vùi phân giúp tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng; quản lý rơm rạ và sản xuất phân hữu cơ từ rơm; cùng các công nghệ vi sinh và ứng dụng khuyến nông điện tử.

    Theo đó, cần đặc biệt quan tâm các công nghệ liên quan và hỗ trợ như cơ giới hóa gieo sạ kết hợp vùi phân, nông nghiệp chính xác và số hóa, sử dụng phân hữu cơ từ rơm, phát triển phân bón cải tiến. Điều này đòi hỏi sự tham gia và đóng góp tích cực từ các tác nhân liên quan, bao gồm các bộ, viện, trường, doanh nghiệp tư nhân, cùng việc xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ quản lý tài nguyên đất, dinh dưỡng, nước và các yếu tố biến đổi khí hậu.

    Cần thiết lập các giải pháp phù hợp theo từng tiểu vùng sinh thái. Đồng thời, việc tăng cường năng lực và thay đổi hành vi của nông dân, nhà quản lý cần chú trọng theo hướng nâng cao kiến thức mới về áp dụng nông nghiệp chính xác để giảm đầu vào và phát thải, quản lý rơm rạ theo mô hình nông nghiệp tuần hoàn, và phát triển hệ thống khuyến nông điện tử. 

    Một trong những giải pháp đáng chú ý được giới thiệu tại hội thảo là việc sử dụng than sinh học, chất rắn giàu carbon, có khả năng cải thiện hệ vi sinh vật trong đất, điều chỉnh chu trình carbon, nitơ và tăng khả năng giữ nước, cải thiện cấu trúc đất.

    Bà Leslie Honicker, chuyên gia nông học của USDA, cho biết sức khỏe đất đang đối mặt với nhiều thách thức như xâm nhập mặn, mất cân bằng pH, mất cân bằng vi sinh vật, ô nhiễm và ngộ độc dinh dưỡng. 

    “Than sinh học giúp tăng hiệu quả sử dụng phân bón, tăng hàm lượng diệp lục và năng suất cây trồng. Cấu trúc hạt lớn của than giúp tăng hấp thụ nitrat, đồng thời cải thiện độ phì nhiêu của đất”, bà Leslie cho biết.

    Các loại phân bón thế hệ mới, bao gồm phân bón hữu cơ, phân bón tan chậm, phân bón kiểm soát giải phóng và chế phẩm sinh học, đang được kỳ vọng sẽ tối ưu hóa hiệu suất sử dụng dinh dưỡng trong nhiều điều kiện canh tác khác nhau. Theo bà Leslie, những loại phân bón này không chỉ cải thiện năng suất cây trồng mà còn góp phần giảm lượng khí thải carbon, thúc đẩy nông nghiệp bền vững.

  • Hội nghị Huy động nguồn lực cho phòng chống Sốt rét và loại trừ Sốt rét ở Việt Nam

    Hội nghị Huy động nguồn lực cho phòng chống Sốt rét và loại trừ Sốt rét ở Việt Nam

    Ngày 8/11, tại TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Viện Sốt rét – KST – CT Trung ương đã tổ chức Hội nghị Huy động nguồn lực cho phòng chống Sốt rét và loại trừ Sốt rét ở Việt Nam. Tham dự Hội nghị có TS Dương Đức Thiện, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch –Tài chính, Bộ Y tế, TS. Hoàng Đình Cảnh, Viện trưởng Viện Sốt rét – KST – CT Trung ương, Giám đốc Dự án RAI4E, ThS Nguyễn Đình Năm, Điều phối viên Dự án RAI4E… Đại diện lãnh đạo Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố. Về phía ngành Y tế Quảng Bình có BS.CKII Đinh Viễn Anh, Phó giám đốc Sở Y tế, BS.CKII Đỗ Quốc Tiệp, Giám Đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật.
    TS. Hoàng Đình Cảnh, Viện trưởng Viện Sốt rét – KST – CT Trung ương, Giám đốc Dự án RAI4E phát biểu tại Hội nghị

    Tại Hội nghị các đại biểu được nghe những kết quả đạt được về công tác phòng chống và loại trừ sốt rét 5 năm 2019-2023 và cập nhật 9 tháng 2024; Tình hình sốt rét trên thế giới; Kế hoạch loại trừ sốt rét ở các nước khu vực Mê Kông; Kế hoạch chiến lược quốc gia phòng chống và loại trừ sốt rét 2021-2025 và thúc đẩy loại trừ sốt rét của Việt Nam đến năm 2030; Định hướng đầu tư cho công tác phonhf chống sốt rét bền vững trong giai đoạn tới.

    Trong giai đoạn 2019 – 2024 giảm đáng kể số ca mắc và tử vong, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong công tác phòng chống và kiểm soát sốt rét, dẫn đến giảm  mạnh số ca mắc bệnh và tử vong so với các năm trước đó. Hệ thống giám sát, chẩn đoán và điều trị sốt rét được củng cố và nâng cao. Nhân lực y tế được  đào tạo chuyên sâu về phòng chống sốt rét. Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ từ nhiều tổ chức quốc tế và các đối tác phát triển trong công tác phòng chống sốt rét.

    Chiến lược Quốc gia về phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định 1920/QĐ-TTg, ngày 27/10/2011 và lộ trình loại trừ bệnh sốt rét tại Việt Nam cũng đã được Bộ Y tế phê duyệt. Đến ngày 25/10/2017, Nghị quyết 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung tiếp tục khẳng định, Việt Nam sẽ loại trừ loài sốt rét vào năm 2030.

    Toàn cảnh Hội nghị

    Trong 9 tháng năm 2024 toàn quốc có 100 trường hợp bệnh sốt rét ngoại lai trong tổng số 306 trường hợp bệnh sốt rét (chiếm 32,68%): trong đó  có 92 trường hợp bệnh sốt rét ngoại lai đến từ nước ngoài: Châu Phi 79 trường hợp, Lào 6 trường hợp, Campuchia 2 trường hợp, Thái Lan 1 trường hợp, Ấn Độ 2 trường hợp, Papua New Guinea 1 trường hợp và Bolivia 1 trường hợp. Các tỉnh có SR ngoại lai là: Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nội có 7 trường hợp, Hải Phòng, Ninh Bình có 3 trường hợp, Thanh Hóa có 3 trường hợp, Nghệ An có 23 trường hợp, Hà Tĩnh có 7 trường hợp, Quảng Bình, Quảng Trị có 5 trường hợp, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế có 5 trường hợp, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước, TP. Hồ Chí Minh có 20 trường hợp, Tây Ninh, Kiên Giang và Trà Vinh.

    Với mục tiêu trong giai đoạn 2021 – 2025  Đẩy mạnh các hoạt động PC&LTSR, mục tiêu đến năm 2025 đạt: Tỷ lệ mắc ký sinh trùng sốt rét còn dưới 0,015/1.000 dân; Tỷ lệ tử vong do sốt rét dưới 0,002/100.000 dân; Không còn P.f nội địa năm 2025 (Plasmodium falciparum là một trong sáu loại ký sinh trùng nguyên sinh gây sốt rét ở người và được coi là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng và gây tử vong nhất); Không để dịch sốt rét xảy ra. Thực hiện loại trừ bệnh sốt rét ở các tỉnh có sốt rét lưu hành (55 tỉnh 2025, Củng cố các yếu tố bền vững nhằm ngăn chặn bệnh Sốt rét quay trở lại, loại trừ sốt rét toàn quốc năm 2030;  Định hướng về chuyên môn phòng chống và loại trừ sốt, Tình hình sốt rét trong những năm tới dự báo có xu hướng giảm dần, khu trú tại một số khu vực thực hiện các biện pháp chuyên môn phòng chống và loại trừ sốt phù hợp; Đề phòng sốt rét quay trở lại tại những khu vực đã loại trừ sốt rét; Quản lý ca bệnh, phòng chống muỗi sốt rét, Giám sát, đảm bảo loại trừ sốt rét bền vững, đề phòng sốt rét quay trở lại, Quản lý chương trình. Áp dụng biện pháp kỹ thuật thúc đẩy nhanh loại trừ sốt rét (TDA, MDA, vắc xin, thuốc mới…)

    Tại Hội nghị  các đại biểu cũng đã nghe các tham luận đến từ Viện Sốt rét KST-CT Quy Nhơn, Viện Sốt rét – KST- CT TP.Hồ Chí Minh về huy động đầu tư cho PCSR bền vững các tỉnh miền Trung -Tây Nguyên; các tỉnh Nam bộ – Lâm Đồng trong những năm tới… Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Gia Lai; Khánh Hòa về Kết hợp nguồn lực địa phương và tài trợ của QTC để giảm ca mắc sốt rét về “0” tiến tới tỉnh loại trừ sốt rét đến năm 2027; Sử dụng nguồn lực địa phương và tài trợ của QTC cắt đứt lây truyền sốt rét…

  • Tập huấn “Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa xét xử vụ án hình sự”

    Tập huấn “Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa xét xử vụ án hình sự”

    Trong 02 ngày, 07/11 – 08/11/2024, tại TP. Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh), Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 7) VKSND tối cao phối hợp với Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) tại Việt Nam tổ chức khóa tập huấn về “Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa xét xử vụ án hình sự”. Chủ trì khóa tập huấn có TS. Lại Viết Quang, Vụ trưởng Vụ 7 VKSND tối cao; ông Hiroshi Suda, Công tố viên Nhật Bản, Quản lý chương trình tư pháp hình sự, UNODC Khu vực Đông Nam Á, Thái Bình Dương và bà Nguyễn Nguyệt Minh, Phụ trách UNODC tại Việt Nam. Tham dự khóa tập huấn có ông Chinone Koichi, Cố vấn trưởng Dự án JICA; PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh, Tổng Biên tập Tạp chí Kiểm sát VKSND tối cao; các đồng chí Phó Vụ trưởng Vụ 7 VKSND tối cao: Nguyễn Đăng Thắng và Phan Hải Đăng; cùng tham dự tập huấn có các đồng chí là Kiểm sát viên Vụ 7 VKSND tối cao và Kiểm sát viên VKSND các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Lạng Sơn.

    Phát biểu khai mạc khoá tập huấn, TS. Lại Viết Quang, Vụ trưởng Vụ 7 VKSND tối cao cho biết: Tranh tụng là hoạt động phản ánh xu hướng phát triển dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự, đã được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu và được ghi nhận tại Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc ngày 10/12/1948 với nội dung “Mọi người đều có quyền hoàn toàn ngang nhau được phát biểu bình đẳng và công khai trước Tòa án độc lập và không thiên vị, nơi quyết định các quyền và nghĩa vụ của mình hoặc về việc buộc tội mình có cơ sở trước Tòa“.

    Tại Việt Nam, thực hiện đúng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị là nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-VKSTC ngày 6/4/2016 về “Tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa” với 10 yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể, đồng thời xác định đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp.

    Khóa tập huấn tập trung vào các nội dung: Giới thiệu chung về quá trình tố tụng của Việt Nam; những khó khăn, vướng mắc của Kiểm sát viên trong công tác tranh tụng; kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tham gia phiên tòa hình sự; phương pháp trình bày thuyết phục; kỹ năng tranh luận, đối đáp tại phiên toà; kỹ năng, phương pháp lấy lời khai nguời làm chứng; kinh nghiệm trong việc sử dụng, trình bày chứng cứ điện tử trong tranh tụng tại phiên toà; những khó khăn, vướng mắc thường gặp trong việc phát hiện, thu thập, đánh giá, củng cố và sử dụng chứng cứ điện tử và phương pháp giải quyết.

    Ngoài ra, trong thời gian tập huấn, đại biểu đã tham gia thảo luận và được các chuyên gia trả lời những vướng mắc, trao đổi những bài học kinh nghiệm và các giải pháp để áp dụng trong thực tiễn.

  • Hội nghị Tổng kết nhiệm vụ hệ thống hoá văn bản QPPL trong cả nước kỳ 2019-2023 và Công bố Bộ pháp điển Việt Nam

    Hội nghị Tổng kết nhiệm vụ hệ thống hoá văn bản QPPL trong cả nước kỳ 2019-2023 và Công bố Bộ pháp điển Việt Nam

    Chiều ngày 05/11, tại Hà Nội, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị Tổng kết nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) trong cả nước kỳ 2019 – 2023 và Công bố Bộ pháp điển Việt Nam. Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh, Thứ trưởng Bộ TT&TT Bùi Hoàng Phương và lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương đã tham dự sự kiện.

    Ngày 16/4/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước tiến hành rà soát, tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực ở cấp Trung ương theo trật tự nhất định với bố cục logic, hợp lý và dễ dàng tra cứu thành Bộ pháp điển. Đến nay, sau 10 năm triển khai thực hiện, Bộ pháp điển Việt Nam cơ bản đã hoàn thành.

    Bộ pháp điển Việt Nam được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử pháp điển (phapdien.moj.gov.vn) và được khai thác, sử dụng miễn phí, góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật. Đây là Cổng thông tin điện tử đăng tải Bộ pháp điển chính thức do Nhà nước giữ bản quyền và giao Bộ Tư pháp thống nhất quản lý.

    Bộ pháp điển được xây dựng, hình thành từ gần 09 nghìn văn bản QPPL đang còn hiệu lực của cấp trung ương và được sắp xếp, cấu trúc vào 45 chủ đề, trong mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục (có 271 đề mục thuộc 45 chủ đề). Mỗi đề mục được pháp điển từ nhiều văn bản khác nhau cùng điều chỉnh một lĩnh vực nhất định và được sắp xếp theo một trật tự khoa học, logic. Cấu trúc của đề mục dựa theo bố cục của văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao nhất trong các văn bản được pháp điển vào mỗi đề mục.

    Với cách pháp điển như trên, Bộ pháp điển giúp các cá nhân, tổ chức dễ dàng, thuận tiện trong tra cứu, tìm kiếm các quy định pháp luật, qua đó, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống và trình độ pháp lý của người dân ngày càng được nâng cao.

    Về cơ bản, Bộ pháp điển có cấu trúc hợp lý, khoa học và bảo đảm tính logic; việc thực hiện ghi chú, chỉ dẫn tương đối rõ ràng giúp cho việc tra cứu, tìm kiếm các quy định của pháp luật được dễ dàng, thuận lợi. Bước đầu, Bộ pháp điển đã được xã hội đón nhận tích cực, khai thác và sử dụng. Cho đến nay đã có gần 2 triệu lượt truy cập khai thác, sử dụng Bộ pháp điển, trung bình mỗi một ngày có khoảng gần 5 nghìn lượt truy cập.

    Việc xây dựng Bộ pháp điển đã góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như góp phần vào việc áp dụng và thi hành pháp luật được hiệu quả.

    Tại Hội nghị, Bộ Tư pháp cũng đã tổng kết nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong cả nước kỳ 2019 – 2023; Công bố và trao Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong triển khai nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ 2019 – 2023./.

  • Tập huấn xây dựng kỹ năng gia đình trong dự phòng lạm dụng ma tuý

    Tập huấn xây dựng kỹ năng gia đình trong dự phòng lạm dụng ma tuý

    Từ ngày 30 đến ngày 31 tháng 10 năm 2024, Trung tâm Chuyển giao công nghệ quốc tế về Lạm dụng chất tại Việt Nam (V-ITTC), Trường Đại học Y Hà Nội đã phối hợp với Cơ quan Phòng, chống Ma tuý và Tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC; United Nations Office on Drugs and Crimes) tổ chức chương trình tập huấn “Xây dựng kỹ năng gia đình trong dự phòng lạm dụng ma tuý” cho 30 giảng viên và cán bộ nguồn đến từ UNODC, Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh, Trường Đại Học Y Dược Hải Phòng, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Lao động Xã hội, CDC Hà Nội, CDC Hải Phòng, Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội Hà Nội, Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến và Phát triển Cộng đồng – SCDI Việt Nam, và Doanh nghiệp Xã hội WeCare. Đến dự và phát biểu Khai giảng lớp tập huấn có BS. Nguyễn Thanh Cường – Cán bộ Chương trình quốc gia về HIV, ma túy và trại giam, Văn phòng UNODC tại Việt Nam và PGS. TS. Lê Minh Giang – Viện trưởng Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội.

    Trong hai ngày, các học viên tham gia khóa đào tạo Strong families (dịch là “Gia đình vững mạnh”) – một chương trình dựa trên bằng chứng với mục tiêu xây dựng và nâng cao kỹ năng gia đình cho các bậc cha mẹ và trẻ em từ 8 đến 16 tuổi, nhằm phòng ngừa lạm dụng ma túy. Đây là một chương trình được thiết kế đặc biệt để trang bị cho học viên kiến thức và phương pháp áp dụng thực tiễn, giúp họ trở thành các điều hành viên tiềm năng của chương trình. Giảng viên bao gồm bà Watjana Arunrangsi từ UNODC Thái Lan, bà Shella Marquez từ UNODC Philippines, và bà Lucky Pramitasari từ UNODC Indonesia.

    Khóa đào tạo “Strong Families” mang đến cho học viên một trải nghiệm học tập toàn diện, với phương pháp hướng dẫn chi tiết và thực tế về cách triển khai chương trình này trong cộng đồng. Chương trình gồm nhiều buổi học tương tác phong phú, bắt đầu với phần giới thiệu tổng quan về “Strong Families”, các buổi hướng dẫn học viên chuẩn bị cho riêng phụ huynh, riêng trẻ, và cả gia đình. Mỗi học viên đều được cung cấp bộ tài liệu đào tạo chuyên sâu, giúp học viên có đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết để sau có khả năng hướng dẫn cha mẹ và trẻ xây dựng các kỹ năng quan trọng trong gia đình. Đặc biệt, chương trình tập trung vào các đề tài khuyến khích giao tiếp tích cực, phương pháp giúp trẻ hiểu rằng căng thẳng là một phần tự nhiên của cuộc sống, và tạo điều kiện để các trẻ thoải mái chia sẻ với cha mẹ về những khó khăn mà mình gặp phải. Học viên còn được học kiến thức chuyên môn cũng như tham gia các buổi thực hành sắm vai, trải nghiệm những hoạt động tương tác và trò chơi gia đình. Những hoạt động này không chỉ thúc đẩy sự gắn kết giữa các thành viên mà còn góp phần xây dựng mối quan hệ tin cậy, lành mạnh và bền vững trong gia đình.

    Khóa đào tạo “Strong Families” rất thành công, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp và kiến thức giá trị cho các học viên. Trong thời gian tới, các giảng viên và cán bộ nguồn làm về lĩnh vực dự phòng sẽ sử dụng những kỹ năng và kinh nghiệm đã học để hỗ trợ các gia đình trong cộng đồng, giúp xây dựng môi trường gia đình vững mạnh, khuyến khích giao tiếp tích cực và gắn kết giữa các thành viên.